CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập tự - do - hạnh phúc

 

ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN

 Kính gửi:

                     - UBND huyện Tiền Hải;

                       - Phòng giáo dục và đào tạo huyện Tiền Hải.

Tôi tên là: Trần Thị Tố Uyên

Sinh ngày    tháng    năm

Chức vụ: Giáo viên lớp 4

Trình độ chuyên môn: Đại học Sư phạm Tiểu học

Tỉ lệ (%) đóng góp vào việc tạo ra sáng kiến là 100%

Là tác giả đề nghị công nhận sáng kiến: Một số phương pháp và những điểm cần lưu ý khi rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4.

- Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục và đào tạo.

- Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: Tháng 9 năm 2016.

- Mô tả bản chất của sáng kiến:

+ Về nội dung của sáng kiến:

1,Một số phương pháp hướng dẫn học sinh lớp 4 rèn đọc diễn cảm.

 2,Một số điểm lưu ý khi hướng dẫn học lớp 4 đọc diễn cảm.

3,Một số ví dụ minh họa.

+ Về khả năng áp dụng của sáng kiến:

Học sinh lớp 3 khi học môn Toán

+ Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:

Giáo viên cần có trình độ chuyên môn sư phạm vững vàng, “yêu nghề mến trẻ”, nhiệt tình với công tác giảng dạy.

+ Đánh giá lợi ích thu được :

     Học sinh tích cực tham gia có hứng thú và say mê học phân môn Tập đọc, đọc diễn cảm tốt góp phần nâng cao chất lượng các môn học khác.

     Giáo viên tự tin về những việc làm của mình đã mang lại hiệu quả giáo dục tốt, góp phần nhỏ bé xây dựng những chủ nhân tương lai của đất nước

   Tôi xin cam đoan mọi thông tin trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.

 

                                                          Tây Giang, ngày  20   tháng 5 năm 2017

                                                                                    NGƯỜI LÀM ĐƠN

                                                                                      (Kí và ghi rõ họ tên)

 

 

                                                                                           Trần Thị Tố Uyên

 

I - THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN

1.Tên sáng kiến: Một số phương pháp và những điểm cần lưu ý khi rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4.

2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục và Đào tạo.

3. Tác giả:

Họ và tên:   Trần Thị Tố Uyên                    Giới tính: Nữ

Ngày sinh:

Trình độ chuyên môn: Đại học.

Chức vụ: Giáo viên lớp 4B

Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Tây Giang

Điện thoại:  01655066077                Email: tranthitouyen0811@gmail.com

4. Đơn vị áp dụng sáng kiến:

Tên đơn vị: Trường Tiểu học Tây Giang

Địa chỉ: Xã Tây Giang, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái BÌnh.

Điện thoại:0363781660

5. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu:  Tháng 9 năm 2016.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

II - BÁO CÁO MÔ TẢ SÁNG KIẾN

1. Tên sáng kiến: Một số phương pháp và những điểm cần lưu ý khi rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4.

 2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục và Đào tạo.

3. Mô tả bản chất của sáng kiến:

3.1. Tình trạng giải pháp đã biết:

       M«n TiÕng ViÖt lµ m«n häc quan träng lµm c¬ së ®Ó c¸c em häc tèt c¸c m«n häc kh¸c vµ còng lµ con ®­êng ng¾n nhÊt gi¸o dôc cho c¸c em nh÷ng t­ t­ëng, t×nh c¶m con ng­êi. Trong ph©n m«n TiÕng viÖt, tËp ®äc vµ häc thuéc lßng chiÕm phÇn lín sè tiÕt, lµ m«n häc rÌn trùc tiÕp kÜ n¨ng nãi, ®äc cho häc sinh.

       Phân môn Tập đọc ở lớp 4 nói riêng đặt ra một nhiệm vụ quan trọng cho mỗi học sinh là: đọc rành mạch, lưu loát văn bản hoặc đoạn văn bản dài, bước đầu đọc có biểu cảm bài văn, bài thơ ngắn, hiểu nội dung, ý nghĩa bài đọc. Dạy tập đọc phải hướng đến giáo dục học sinh yêu Tiếng Việt bằng cách nêu bật sức mạnh biểu đạt của Tiếng Việt, sự giàu đẹp của âm thanh, sự phong phú của ngữ điệu trong việc biểu đạt nội dung. Song thực tế, chất lượng đọc của học sinh chưa đáp ứng được những yêu cầu trên, có những học sinh đọc to nhưng không đảm bảo tốc độ, đọc không đúng ngữ điệu, ngắt nghỉ tùy tiện theo sở thích mà không thể hiện đúng nội dung bài đọc nhất là yêu cầu đọc diễn cảm.

       Đọc diễn cảm là hình thức đọc thành tiếng một cách rõ ràng, chính xác, có ngữ điệu đọc phù hợp với nội dung văn bản, nhằm truyền cảm được nội dung bài đọc đến người nghe.

      Đọc diễn cảm là biết thể hiện kĩ thuật đọc phù hợp với từng bài như: ngắt nhịp đúng câu văn, câu thơ, thể hiện được nội dung bài đọc bằng sắc thái giọng đọc vui, buồn, trầm, bổng, gợi cảm, nhẹ nhàng, thiết tha hay mạnh mẽ, dứt khoát, tốc độ chậm rãi, khoan thai hay dồn dập... Ngoài ra, cần biết thể hiện đúng các kiểu câu như: câu hỏi, câu kể, câu cảm... biết phân biệt giọng đọc của các nhân vật, của người dẫn chuyện trong bài. Học sinh bước đầu làm chủ được giọng đọc sao cho vừa đúng về ngữ điệu, về tốc độ, cao độ, trường độ và âm sắc; vừa thể hiện cảm nhận riêng của từng cá nhân nhằm diễn tả đúng nội dung đọc.

      Đọc diễn cảm đòi hỏi học sinh phải nắm chắc nội dung từng đoạn từng bài, tâm tình và lời nói của từng nhân vật để diễn tả cho đúng tinh thần của câu văn, bài văn, tức là đi sâu vào bản chất của câu văn, bài văn. Cho nên, mục đích đọc diễn cảm là bộc lộ ra được cái bản chất của nội dung và trên cơ sở đó muốn truyền đạt đúng những ý nghĩ và tình cảm của tác giả. Muốn đọc diễn cảm tốt phải hiểu kỹ nội dung của bài tập đọc và phải truyền đạt tốt sự hiểu biết của mình tới người nghe.

     Luyện đọc diễn cảm trong các giờ tập đọc ở tiểu học ít được chú ý đúng mức bởi nhiều nguyên nhân từ phía giáo viên, học sinh.

    Tuy vậy, để có một giờ tập đọc thành công, trong đó phần luyện đọc diễn cảm vẫn còn là những trăn trở đối với mỗi người giáo viên đang đứng trên bục giảng. Bởi dạy tốt phần đọc diễn cảm là kết quả một quá trình rèn luyện, kiên trì của giáo viên, sự học hỏi bền bỉ của mỗi học sinh.

      Qua thực tế giảng dạy ở lớp 4, tôi thấy việc dạy của giáo viên và việc học của học sinh có một số vấn đề như sau:

       Về phía giáo viên:

      Đối với đa số giáo viên, tập đọc không phải là phân môn khó dạy. Hầu hết trong số họ đều có nhiều cố gắng trong việc tìm tòi phương pháp, nghiên cứu nội dung, học hỏi kinh nghiệm, đặc biệt có đổi mới phương pháp giảng dạy“ lấy học sinh làm trung tâm” song kết quả cho thấy học sinh chưa biết đọc diễn cảm hoặc đọc diễn cảm mà không hay. Bởi trong khi dạy, giáo viên thường mới chỉ coi trọng và sửa cho học sinh vấn đề đọc to, rõ ràng, lưu loát chứ chưa quan tâm nhiều đến kỹ thuật đọc, giọng đọc, cách đọc diễn cảm của học sinh hay việc đọc mẫu của giáo viên. Giáo viên dạy tập đọc như dạy văn trước đây. Nhìn chung phương pháp còn mang tính chất hưởng thụ và áp đặt( về cách hiểu nội dung bài, cách đọc bài). Giáo viên giảng giải quá nhiều về các từ khó, về ý nghĩa của bài mà xem nhẹ phần luyện đọc, đặc biệt là luyện đọc diễn cảm. Bên cạnh đó, do khách quan, một số giáo viên không có chất giọng tốt để đọc hay bài đọc. Giáo viên tiểu học lại dạy quá nhiều môn trong một buổi học nên việc đầu tư thời gian để luyện đọc trước khi lên lớp còn có phần hạn chế...

       Về phía học sinh:

      Các em đã đọc thành tiếng, phát âm đúng và rõ các tiếng có vần khó. Nhưng đọc để thể hiện nội dung bài đọc thì còn thấp. Khi đọc, nhiều em chưa hiểu ý của từng đoạn, từng bài, các em ngắt nghỉ câu văn, ngắt nhịp câu thơ chưa chính xác, chưa thể hiện được nội dung và tình cảm bài đọc bằng sắc thái giọng đọc vui, buồn, trầm, bổng, gợi cảm... Kĩ năng đọc lướt để tìm hiểu nội dung bài chưa tốt ở đa số các em. Ảnh hưởng của phương ngữ: tình trạng phát âm lẫn giữa thanh ngã và thanh sắc,... còn nặng nề.

    Với mong muốn dạy tốt phân môn tập đọc giúp các em có kiến thức, kĩ năng để học tốt môn văn ở những lớp sau, nhằm góp phần giáo dục học sinh học tốt các môn khác, hướng tới phát triển giáo dục toàn diện cho các em,  tôi đã thực hiện một số phương pháp rèn đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4 đạt kết quả, tôi đã có một số việc làm đạt kết quả, tôi mạnh dạn trình bày cùng đồng nghiệp.

3.2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:

   a. Mục đích của giải pháp:

       - Giúp học sinh lớp 4 đọc đúng, đọc diễn cảm, đọc hay các bài văn, bài thơ, câu chuyện.... trong chương trình sách giáo khoa môn Tiếng Việt 4, thể hiện được nội dung bài đọc bằng sắc thái giọng đọc vui, buồn, trầm, bổng, gợi cảm, nhẹ nhàng, thiết tha hay mạnh mẽ, dứt khoát, tốc độ chậm rãi, khoan thai hay dồn dập... Ngoài ra, học sinh lớp 4 cần biết thể hiện đúng các kiểu câu như: câu hỏi, câu kể, câu cảm... Biết phân biệt giọng đọc của các nhân vật, của người dẫn chuyện trong bài. Học sinh bước đầu làm chủ được giọng đọc sao cho vừa đúng về ngữ điệu, về tốc độ, cao độ, trường độ và âm sắc; vừa thể hiện cảm nhận riêng của từng cá nhân nhằm diễn tả đúng nội dung đọc.

      -  Giúp học sinh lớp 4 chủ động tìm hiểu kiến thức, m¹nh d¹n h¬n ,biÕt t×m giäng ®äc ng÷ ®iÖu, s¾c th¸i, lêi nh©n vËt. BiÕt nhËn xÐt b¹n ®Ó cïng t×m ®óng giäng ®äc cña bµi hoÆc tõng ®o¹n. Trang bị cho học sinh vốn kiến thức về thơ, văn, cã kÜ n¨ng ®äc diÔn ®¹t b»ng lêi t­¬ng ®èi tèt, biÕt dïng tõ ng÷, h×nh ¶nh chän läc ®Ó viÕt ®o¹n v¨n, bµi v¨n hay.

     - Giúp giáo viên có thêm kĩ năng, phương pháp giảng dạy phù hợp với yêu cầu đổi mới về cách dạy, cách nhận xét, đánh giá học sinh theo thông tư 22/BGD&ĐT cũng như cách học, cách tiếp thu kiến thức  của học sinh phù hợp với sự đổi mới của ngành giáo dục.

b. Nội dung giải pháp:

b.1 -Ph©n lo¹i ®èi t­îng häc sinh

Ngay tõ ®Çu n¨m häc t«i ®· tiÕn hµnh ph©n lo¹i häc lùc cña líp , x©y dùng cho häc sinh cã ý thøc vµ thãi quen , tÝnh tù gi¸c trong mäi ho¹t ®éng häc tËp .

*Đối tượng 1: Học sinh đọc chậm nhỏ.

 *Đối tượng 2: Học sinh biết đọc to, lưu loát.

 *Đối tượng 3: Học sinh biết đọc diễn cảm.

    Căn cứ vào đó, tôi đã tiến hành sắp xếp chỗ ngồi cho học sinh, những em đọc yếu ngồi cạnh những em đọc khá, đọc tốt để các em có điều kiện giúp đỡ nhau, rèn luyện bổ sung cho nhau qua quá trình luyện đọc theo cặp đôi và theo nhóm bàn để các em cùng tiến bộ. Công việc tiếp theo, tôi giới thiệu với học sinh về cấu trúc chương trình phân môn để các em nắm được các chủ điểm chính trong từng học kỳ và trong cả năm học. Đặc biệt tôi đã nêu tầm quan trọng, yêu cầu kỹ năng cơ bản về việc rèn kĩ năng đọc diễn cảm. Hướng dẫn học sinh lưu lại những câu, đoạn văn, đoạn thơ, bài văn, bài thơ hay trong sổ tay của mình, giao trách nhiệm cho một số em đọc khá, đọc tốt thường xuyên kèm cặp giúp đỡ những em đọc yếu ở mọi bài học, mọi môn học chứ không chỉ dừng lại ở phần đọc theo cặp đôi hay đọc theo nhóm, đọc phân vai...

b.2- Rèn kĩ năng đọc đúng:

       Để đọc diễn cảm tốt thì học sinh cần phải đọc đúng văn bản, những tiếng, những từ có phụ âm đầu hay nhầm lẫn: l-n, s-x, ch-tr, d-r-gi,... âm hay nhầm lẫn: thanh ngã, thanh sắc thường là những từ khó đối với học sinh. Cho nên, trong bước rèn đọc đúng cho học sinh, giáo viên cho các em đọc thầm toàn bài rồi đọc cá nhân.

     Trong thực tế, nhiều khi giáo viên quá phụ thuộc vào sách hướng dẫn mà ép học sinh phải chỉ ra những từ khó - giống như trong sách nêu ra là không nên bởi những từ đó với học sinh có thể chưa phải là khó. Song từ, tiếng khó đọc mà tự các em phát hiện ra có thể là rất nhiều.

      Do vậy, giáo viên cần kết hợp với việc quan sát theo dõi của mình trong tất cả các giờ học để thấy học sinh lớp mình hay nhầm lẫn nhất ở những cặp phụ âm nào, vần nào để tập trung rèn cho các em những tiếng khó, từ khó ở các loại đó.

      Việc luyện đọc từ khó cần phải được đặt trong văn cảnh, trong môi trường ngôn ngữ thì học sinh đọc những từ đó sẽ đúng hơn. Bởi nhiều khi đọc riêng từ, học sinh có thể đọc đúng nhưng khi đặt từ đó vào trong câu văn, đoạn văn thì chưa chắc học sinh đã đọc đúng.

      Chính vì thế, sau khi rèn phát âm luyện đọc từ khó có chứa âm khó, giáo viên cần yêu cầu học sinh tìm những câu văn, câu thơ thậm chí đoạn văn, đoạn thơ có chứa từ khó đó cho học sinh đọc vì mục đích của rèn đọc đúng là rèn phát âm đúng để đọc đúng văn bản.

    Rèn cho học thói quen đọc đúng những từ có các phụ âm mà học sinh hay nhầm lẫn là một việc làm không đơn giản. Bản thân một mình phân môn Tập đọc cũng khó có thể giải quyết được. Do vậy, trong tất cả các giờ học và trong bất kỳ hoàn cảnh giao tiếp nào cũng cần giúp các em sửa ngay.

b.3.Rèn kỹ năng đọc ngắt, nghỉ hơi

     Khi đọc, thông thường học sinh chỉ biết ngắt hơi khi gặp dấu phảy, dấu chấm phảy và nghỉ hơi khi gặp dấu chấm. Nhưng khi gặp những câu văn dài không có dấu câu, học sinh thường rất lúng túng, không biết ngắt nghỉ hơi như thế nào. Vì vậy trong trường hợp này tôi đã hướng dẫn học sinh ngắt nghỉ theo cụm từ để làm nổi bật ý tác giả .

Ví dụ: Câu văn trong bài Dế Mèn bênh vực kẻ yếu: Hôm nay,/ bọn chúng chăng tơ ngang đường /đe bắt em,/ vặt chân,/ vặt cánh ăn thịt em.//

Hoặc khi học bài thơ Mẹ ốm, tôi đã đọc mẫu để các em phát hiện cách ngắt nghỉ hơi sau mỗi tiếng như:

Lá trầu / khô giữa cơi trầu

Truyện Kiều /gấp lại trên đầu bấy nay.//

Cánh màn/ khép lỏng cả ngày

Ruộng vườn/ vắng mẹ cuốc cày sớm trưa.//

Sáng nay trời đổ mưa rào

Nắng trong trái chín/ ngọt ngào bay hương.//

b.4.Rèn kỹ năng đọc diễn cảm

     Thực tế nhiều học sinh không có kỹ năng đọc diễn cảm nhưng cứ cố đọc nên xảy ra tình trạng các em đọc nâng cao, hạ thấp hay nhấn giọng một cách tùy tiện khiến cho bài đọc nghe rất khó chịu. Muốn khắc phục tình trạng này thì giáo viên phải hướng dẫn học sinh:

+)  Nhấn giọng ở những từ ngữ gợi tả, gợi cảm (cũng có thể là những từ láy, từ ghép)

+)Cách đọc các kiểu câu:

     Câu kể, ở cuối câu có dấu chấm khi đọc thường xuống giọng ở cuối câu. Câu kể có dấu chấm lửng, khi đọc phải kéo dài giọng.

     Câu hỏi, ở cuối câu có dấu chấm hỏi, khi đọc ta phải lên giọng ở cuối câu.

     Câu cảm, cầu cầu khiến, ở cuối câu có dấu chấm than khi đọc cần phải lên giọng ở cuối câu.

     Đọc diễn cảm còn đòi hỏi người đọc phải nắm chắc nội dung từng đoạn, từng bài, tâm tình và lời nói của từng nhân vật để diễn tả cho đúng tinh thần của câu văn, bài văn. Cho nên, mục đích đọc diễn cảm là bộc lộ ra được cái bản chất của nội dung và trên cơ sở đó muốn truyền đạt đúng những ý nghĩ và tình cảm của tác giả.

Ví dụ: Trong bài : Truyện cổ nước mình, để học sinh hiểu được những phẩm chất quý báu của ông cha ta được thể hiện qua các câu chuyện cổ, thì giáo viên cần hỏi những câu hỏi như: Vì sao tác giả yêu truyện cổ nước mình? Hoặc Truyện cổ đã giúp chúng ta nhận ra những phẩm chất gì của ông cha?  Sau khi trả lời các câu hỏi của giáo viên, học sinh sẽ biết cách đọc ngắt nghỉ hơi và nhấn giọng khi đọc những từ thể hiện những phẩm chất quý báu của ông cha ta như

Tôi yêu truyện cổ nước tôi

Vừa nhân hậu / lại tuyệt vời sâu xa.//

Thương người / rồi mới thương ta

Yêu nhau / dù mấy cách xa cũng tìm.//

Rất công bằng/ rất thông minh

Vừa độ lượng / lại đa tình / đa mang.//

Muốn đọc diễn cảm tốt phải hiểu kỹ nội dung của bài tập đọc và phải truyền đạt tốt sự hiểu biết của mình tới người nghe. Học sinh đọc diễn cảm chưa tốt là có một phần nguyên nhân giáo viên chưa giúp học sinh cảm thụ tốt nội dung bài tập đọc.

Ví dụ: Khi học sinh học bài: Trung thu độc lập, để giúp học sinh có kỹ năng đọc diễn cảm đoạn 2 thể hiện sự mơ ước, mong muốn của anh chiến sĩ , tôi đã hướng dẫn học sinh thảo luận nhóm để trả lời câu hỏi trong phần tìm hiểu bài như sau: Anh chiến sĩ tưởng tượng đất nước trong những đêm trăng tương lai như thể nào ? Vẻ đẹp của đất nước được thể hiện qua những từ ngữ nào ? Sau khi trả lời đúng các câu hỏi, học sinh sẽ biết nhấn giọng, ngắt nghỉ hơi ở những từ ngữ gợi tả, gợi cảm như:

   Ngày mai/, các em có quyền mơ tưởng một cuộc sống tươi đẹp vô cùng.// Mươi mười lăm năm nữa thôi/ các em sẽ thấy/ cũng dưới ánh trăng này,/ dòng thác nước đổ xuống làm chạy máy phát điện;/ ở giữa biển rộng,/ cờ đỏ sao vàng phấp phới bay trên những con tàu lớn.// Trăng của các em sẽ soi sáng những ống khói nhà máy chi chít,/ cao thẳm,/ rải trên đồng lúa bát ngát vàng thơm,/ cùng với nông trường to lớn,/ vui tươi.//

     Giúp học sinh hiểu rõ bài văn, bài thơ hoặc văn bản phải đọc là cái gốc để giúp học sinh đọc diễn cảm tốt hơn. Điều đó cho thấy việc đọc hiểu và phần đọc diễn cảm có quan hệ mật thiết với nhau. Học sinh có khả năng đọc hiểu tốt sẽ tạo điều kiện cho học sinh đó đọc diễn cảm tốt hơn.

Song học sinh có thể đọc diễn cảm tốt hơn nếu như học sinh được nghe cô giáo mình đọc hay, đọc truyền cảm. Giọng đọc hấp dẫn của cô chính là một thứ phương tiện trực quan có hiệu quả nhất giúp trò đọc tốt hơn.

Bên cạnh những việc nhất thiết phải làm theo quy trình đã nêu trên,  thì để góp phần nâng cao kỹ năng đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4, giáo viên cần có một số biện pháp được coi là thủ thuật, là chìa khóa giúp các em tiếp thu nhanh phương pháp, cách thức thực hiện khi đọc diễn cảm đoạn văn, bài văn hoặc bài thơ :

   b.5 Một số điểm cần lưu ý khi  hướng dẫn học sinh lớp 4 đọc diễn cảm

- Nhịp điệu đọc thay đổi đọc lúc chậm rãi, lúc dồn ập khẩn trương phù hợp với nội dung bài đọc

       Bên cạnh việc hướng dẫn học sinh ngắt giọng thể hiện đúng quan hệ ngữ nghĩa- ngữ pháp còn cần phải dạy cho học sinh đọc đúng tốc độ, ngắt giọng biểu cảm, là chỗ đọc nhanh hoặc ngừng lâu hơn bình thường hay chỗ dừng không do lô gíc ngữ nghĩa mà do dụng ý của người đọc nhằm gây ấn tượng về cảm xúc, nhằm tạo nên những chỗ ngừng " gây bão tố", tập trung sự chú ý của người nghe vào những từ ngữ sau chỗ ngừng, những từ ngữ mang trọng âm ngữ nghĩa.

    Ví dụ :  Sông La/ ơi sông La

                 Trong veo/ như ánh mắt

                   .........

                 Bè đi/ chiều thầm thì

             Gỗ lượn đàn thong thả.

                          ( Bè xuôi sông La - TV4 tập 2)

        Chọn cách ngắt nhịp " Sông La/ ơi sông La" để " ơi" được ngân dài tha thiết làm nổi bật cách nhân hóa sông La bằng cách gọi tên giúp biểu hiện tình cảm thân thương của tác giả với dòng sông quê hương... Vẫn nhịp 2/3 "Bè đi/ chiều thầm thì" làm cho câu thơ sốn động hơn với nhiều đối tượng được miêu tả, nhiều hạt động và để không hạn chế thời gia" Bè đi" mà tạo một kết hợp bất thường" chiều thầm thì" cho thời gian cất lên thành lời...

Ví dụ:

Muôn tâu Bệ hạ,/ thần xin chịu tội. Thần đã cố gắng hết sức/ nhưng học không vào ......

-Tâu Bệ hạ! Thần vừa tóm được một kẻ đang cười sằng sặc ngoài đường.

-Dẫn nó vào! - Nhà vua phấn khởi ra lệnh .

       Với đoạn văn đối thoại trên cần đọc giọng nhanh, dồn dập khẩn trương thể hiện sự lo lắng của viên quan đại thần khi không hoàn thành nhiệm vụ mà triều đình đã giao cho, sự háo hức hi vọng của cả triều đình được cháy lên khi thị vệ bắt được kẻ đang cười sằng sặc ở ngoài đường, sự phấn khởi tột độ của nhà vua , sự khác biệt về tâm lý của nhà vua khi đang mong chờ và đã có kết quả.

  - Cường độ đọc nhấn mạnh hay lướt nhẹ, âm lượng phát ra to hay nhỏ:

Khi giảng dạy giáo viên cần chú ý đến thể loại văn, thơ, truyện, ... và nội dung ( ý nghĩa) của bài học để có phương pháp hướng dẫn học sinh luyện đọc diễn cảm một cách cụ thể và chính xác nhất. Không đọc chậm quá, nhanh quá hoặc đọc liến thoắng đều làm cho người nghe khó theo dõi, không hiểu đúng và đầy đủ nội dung của bài học. Âm lượng đọc độ to nhỏ của giọng đọc phải phù hợp, không nhỏ quá hoặc to quá; vì thế cần hướng dẫn học sinh điều chỉnh âm lượng đọc ở từ ngữ, câu, đoạn, bài cho phù hợp với nội dung bài đọc và ẩn ý của tác giả được gửi gắm sâu sau lớp vỏ ngôn từ:

Ví dụ:

 Ôi chao chú chuồn chuồn nước mới đẹp làm sao/. Màu vàng trên lưng chú lấp lánh./ Bốn cái cánh mỏng như giấy bóng. / Cái đầu tròn và hai con mắt long lanh như thủy tinh./ Thân chú nhỏ và thon vàng như màu vàng của nắng mùa thu./

Các từ được gạch chân trong đoạn văn trên cần đọc nhấn mạnh hơn để thể hiện rõ vẻ đẹp rực rỡ của chú chuồn chuồn nước.

- Giọng đọc lên cao hay xuống thấp

      Để thực hiện yêu cầu này, trong giờ tập đọc không nên xem nhẹ khâu này. Tuy vậy để học sinh có giọng đọc( ngữ điệu ) phù hợp , chính xác cần phải thực hiện tốt kĩ năng đọc hiểu như: Hiểu nghĩa từ, tìm được từ khóa, câu khóa trong bài, tóm tắt được nội dung của đoạn, bài, phát hiện ra những yếu tố văn và giá trị của chúng trong việc biểu đạt nội dung. Cần chú ý đến những biện pháp nghệ thuật được tác giả sử dụng trong văn thơ như: Nhân hóa, só sánh, điệp từ, điệp ngữ, đảo ngữ,...

Ví dụ:

 Thoắt cái, lá vàng rơi trong khoảnh khắc mùa thu. Thoắt cái , trắng long lanh một cơn mưa tuyết trên những cành đào, lê, mận. Thoắt cái, gió xuân hây hẩy, nồng nàn với những bông hoa lay ơn mà đen nhung hiếm quý.

      Nhấn giọng ở điệp từ: 'thoắt cái" để thể hiện sự biến đổi nhanh chóng, đột ngột, của thời tiết của Sa Pa tạo nên sự khác thường, đặc biệt, lạ so với những vùng miền khác nhằm tạo cho người nghe thấy được vẻ đẹp kỳ lạ, hấp dẫn của vùng đất Sa Pa.

     Nhấn giọng ở cụm từ : "trắng long lanh" - cụm từ đảo ngữ trong câu văn làm cho người nghe thấy được mưa tuyết rất trắng, trắng toát, trắng với vẻ lấp lánh, lung linh, huyền diệu.

    Ví dụ: Đọc những câu sau, lời dẫn chuyện đọc thấp, lời tên chúa tàu giọng đọc lên cao và dằn giọng , còn đọc lời bác sĩ Ly giọng đọc điềm tĩnh nhưng dứt khoát.

 Chúa tàu trừng mắt nhìn bác sĩ, quát:L

-Có câm mồm không ? M

Bác sĩ điềm tĩnh hỏi: L

-Anh bảo tôi phải không?N

Khi tên chúa tàu cục cằn bảo" Phải", bác sĩ nói:

-Anh cử uống rượu mãi như thế thì đến phải tống anh đi nơi khác.M

                             ( Khuất phục tên cướp biển, TV4 tập 2)

- Thay đổi sắc thái giọng đọc

      Việc thay đổi sắc thái giọng đọc làm cho người nghe hiểu  được những sắc thái tình cảmđa dạng của con người như: vui, buồn, lo lắng, giận dữ, hóm hỉnh, phẫn nộ. Để học sinh hiểu được khi nào cần thay đổi sắc thái giọng đọc, tôi thường hỏi như sau: Em có nhận xét gì về nhân vật... ?

Ví dụ: Khi hướng dẫn đọc đoạn 2 của bài Vương quốc vắng nụ cười, tôi hỏi: So sánh thái độ của nhà vua,viên đại thần sau khi đi du học về  và viên thị vệ ? HS sẽ nhận thấy sự khác nhau về thái độ của viên quan đại thần là lo lắng, hồi hộp, sợ hãi, còn viên thị vệ thì vội vàng, hấp tấp, nửa mừng, nửa lo, nhà vua có thái độ phấn khởi, ngạc nhiên, từ đó các em sẽ điều chỉnh giọng đọc của mình cho phù hợp với tâm lý nhân vật.

-Nét mặt, điệu bộ khi đọc.

      Khi đọc diễn cảm, nếu học sinh biết thể hiện nét mặt, cử chỉ, điệu bộ một cách tự nhiên, phù hợp với nội dung văn bản thì sẽ góp phần tạo nên sự truyền cảm đối với người nghe.

Ví dụ:

       Khi hướng dẫn học sinh đọc bài Thưa chuyện với mẹ, ( TV4 tập 1), để thể hiện thái độ của mẹ khi nói chuyện với Cương, giáo viên có thể hướng dẫn, gợi mở cho HS nhận thấy sự ngạc nhiên của mẹ khi nghe Cương nói về việc nghỉ học để xin học nghề. Phần này sẽ là khó với học sinh, giáo viên có thể thể hiện qua phần đọc mẫu để học sinh cảm nhận và bắt chước sau đó các em sẽ hiểu được là tại sao phải thể hiện bằng cả nét mặt, cử chỉ.

Một hôm, em ngỏ ý nói với mẹ:

-Mẹ nói với thầy cho con đi học nghề rèn. ( nét mặt buồn, giọng nhỏ lại, điệu bộ rụt rè, e ngại)

-Con vừa bảo gì ? ( nét mặt khó hiểu, chau mày, tỏ ý ngạc nhiên?

-Mẹ xin thầy cho con đi làm thợ rèn.( nét mặt tự tin, bình thản)

-Ai xui con thế?( nét mặt, điệu bộ ngạc nhiên, sững sờ, ngơ ngác )

Một số điểm cần lưu ý khi rèn diễn cảm đọc cho học sinh. Để học sinh có kĩ năng đọc diễn cảm tốt, tôi đã hướng dẫn học sinh phân loại để có cách đọc cho phù hợp với từng loại bài.

-Khi luyện đọc văn miêu tả:

Những bài văn miêu tả về phong cảnh, tả cảnh vật, hiện tượng hoạc con người trong chương trình Tiếng Việt 4 như: Con chuồn chuồn nước, Rừng cọ quê tôi, Đường đi Sa Pa, Ông Trạng thả diều, Chú Đất Nung,.... cần nhấn giọng ở những từ ngữ miêu tả về đường nét, màu sắc, hình ảnh, đặc điểm của sự vật. Trong văn miêu tả, dấu phẩy, dấu chấm lànhững dấu ngắt nghỉ khi đọc.

-Khi đọc các bài thơ.

 Mỗi bài thơ có đặc điểm riêng vì thế giáo viên cần nắm rõ các thể thơ:Thơ tự do, thơ lục bát, thơ song thất lục bát, cách gieo vần, nhấn giọng ở các từ ngữ thể hiện đúng nội dung, còn cần chú ý cao giọng ở cuối mỗi dòng thơ, giáo viên sử dụng các kí hiệu đã quy ước như: giọng đọc đi lên (  # ), giọng đọc đi xuống ( $ ), có những dòng thơ cần vắt dòng (N)

-Khi luyện đọc văn đối thoại, văn kể chuyện.

     Cần phân biệt giọng của người dẫn chuyện, giọng các nhân vật. Giọng đọc lời của các nhân vật phụ thuộc vào tích cách của nhân vật và tùy theo từng ngữ cảnh  cụ thể.

-Tích hợp rèn đọc qua những hoạt động khác

    Ví dụ, khi ra một đề Toán, giáo viên yêu cầu học sinh phải đọc đúng thì mới hiểu được nội dung bài toán cho gì, hỏi gì. Hay các môn học như Khoa, Sử, Địa... khi học sinh đọc phát âm sai, đọc chưa đúng, đọc ngắc ngứ làm cho nội dung, ý nghĩa bài không liên kết bắt buộc giáo viên phải sửa cho các em để các em hiểu được nội dung bài....

  Học đọc qua các hoạt động ngoại khóa: Qua các trò chơi hái hoa dân chủ nếu học sinh đọc sai, đọc chậm bắt buộc giáo viên phải hướng dẫn các em khắc phục tình trạng để kịp với tốc độ mà trò chơi yêu cầu.

Khi tham gia sinh hoạt chủ điểm, học sinh cũng phải nói to, nói rõ ràng, có sức truyền cảm thì mới hấp dẫn người nghe.

Cách thức giúp học sinh cảm thụ tốt nội dung bài tập đọc chính là các bước tiến hành mà tôi đã nêu ra ở trên. Song, học sinh có thể đọc diễn cảm tốt hơn nếu như học sinh được nghe cô giáo mình đọc hay, đọc tốt. Cách đọc của cô chính là một thứ phương tiện trực quan có hiệu quả nhất góp phần minh chứng cho những gì mà cô và trò cùng thống nhất ở trên. Để rèn cho mình khả năng đọc diễn cảm tôi thường soạn bài thật kỹ (bài soạn của tôi dựa trên những gợi ý của sách giáo viên song cũng phải căn cứ vào tình hình thực tế của lớp mình về trình độ nhận thức cũng như khả năng đọc của học sinh để có một bài soạn phù hợp nhất, cân đối nhất giữa hai phần rèn đọc và cảm thụ). Xem lại toàn bộ nội dung bài soạn trước khi lên lớp để nắm chắc nội dung bài, thẩm thấu toàn bộ nội dung của bài và nắm được suy nghĩ, tình cảm của tác giả được gửi gắm trong bài văn và đặt mình vào hoàn cảnh của tác giả để nhằm truyền tới người nghe hiểu biết của mình và tình cảm của tác giả. Với các bước tiến hành rèn luyện như vậy cùng với sự kiên trì tập luyện mà mỗi lần tôi đọc mẫu đã thực sự cuốn hút các em chú ý vào nội dung của bài.

Trước những việc làm nêu trên, ngoài ra trong giờ tập đọc, tôi thường xuyên quan tâm đến những em rụt rè, nhút nhát, kịp thời khuyến khích động viên để các em có hứng thú đọc tốt hơn. Đối với những em đọc nhỏ, chậm, ngoài việc hướng dẫn chung đọc diễn cảm cho cả lớp, tôi đã có kế hoạch bồi dưỡng ngay từ đầu như: thường xuyên uốn nắn việc phát âm tiếng có vần khó, hướng dẫn đọc dứt khoát từng từ, từng ngữ. Với những câu văn dài tôi cho học sinh này dùng bút chì vạch sẵn những chỗ ngắt nhịp vào sách giáo khoa, giúp các em ngắt nhịp đúng chỗ, cứ như vậy uốn nắn dần để các em đọc tốt dần lên. Đặc biệt trong giờ Tập đọc, tôi luôn tạo cho lớp học một không khí thoải mái để các em phấn khởi học tập. Trong việc rèn kỹ năng đọc diễn cảm cho học sinh tôi không sử dụng sự gò ép, áp đặt, mà thường xuyên sử dụng phương pháp gợi mở để phát huy tính chủ động, tích cực và sự sáng tạo ở mỗi học sinh, từ đó các em có điều kiện để thể hiện mình.

3.3. Khả năng áp dụng của giải pháp:

    - Học sinh lớp 4B trường Tiểu học.

    - Giáo viên trường Tiểu học.

3.4. Hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng giải pháp:

Nội dung

Đọc đúng

Đọc nhanh

Đọc hiểu

Đọc diễn cảm

Khảo sát trước khi áp dụng SK

14

10

2

1

Khảo sát sau khi áp dụng KS

 

7

10

10

- Sau khi áp dụng sáng kiến đã nếu để rèn học sinh đọc diễn cảm, tôi thấy học sinh lớp 4B đọc rất tốt, cảm thụ nội dung của bài đọc đúng, đủ, sâu sắc cả về nội dung bài đọc và hình thức nghệ thuật. Kết quả kiểm tra đọc thành tiếng , đọc hiểu và làm văn của lớp tôi có 20/25 đạt điểm 9,10. có 20/25học sinh hoàn thành tốt các môn học . Không những thế chất lượng của các môn khác cũng được nâng lên rõ rệt so với các năm học trước.

 3.5. Những người tham gia tổ chức áp dụng sáng kiến làn đầu.

Giáo viên trường Tiểu học Tây Giang.

Học sinh trường Tiểu học Tây Giang.

3.6. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:

- Ng­êi gi¸o viªn lµm tèt c«ng viÖc sau:

           T×m hiÓu tr­¬ng tr×nh ph©n m«n tËp ®äc s¸ch gi¸o khoa líp 4.

           §iÒu tra, thèng kª sè häc sinh ®äc diÔn c¶m cña líp m×nh ®ang d¹y .

           T×m hiÓu ®iÒu kiÖn nµo gãp phÇn ®Ó häc sinh ®äc diÔn c¶m

           §Ò nghÞ d¹y thö nghiÖm giê TËp ®äc ®Ó Tæ chuyªn m«n tham gia gióp ®ì ngay tõ ®Çu n¨m häc.

          Chñ ®éng trao ®æi víi ®ång nghiÖp .

         §Ò ra biÖn ph¸p rÌn ®äc diÔn c¶m cho häc sinh sao cho phï hîp cã hiÖu qu¶ .

- Người gi¸o viªn cần :

     Nghiªn cøu kü néi dung ch­¬ng tr×nh SGK ph©n m«n TËp ®äc líp 4. X¸c ®Þnh ®óng môc tiªu cña tõng bµi cô thÓ ®Ó h­íng dÉn häc sinh ®äc ®óng tõ ®ã ®äc diÔn c¶m tõng bµi cô thÓ.

     Häc hái kinh nghiÖm cña nh÷ng ®ång chÝ cã chuyªn m«n v÷ng vµng trong gi¶ng d¹y.

      CÇn luyÖn ®äc diÔn c¶m tr­íc khi ®äc mÉu.

      CÇn ph©n lo¹i ®èi t­îng häc sinh trong líp ®Ó lËp kÕ ho¹ch gi¶ng d¹y cho phï hîp. Th­¬ng yªu häc sinh nh­ con cña m×nh, ®èi víi nh÷ng häc sinh yÕu gi¸o viªn ph¶i kiªn tr× , nhÑ nhµng kh«ng nªn qu¸ n«n nãng. §èi víi em kh¸ , giái th× ®éng viªn khuyÕn khÝch.

          Phèi hîp mäi lùc l­îng gi¸o dôc: Nhµ tr­êng - Gia ®×nh - X· héi -  §oµn thÓ  ...

    CÇn linh ho¹t xö lý nh÷ng t×nh huèng s­ ph¹m x¶y ra tõ phÝa häc sinh. Lu«n ®éng viªn kÞp thêi ®Ó khÝch lÖ ph¸t huy tÝnh tÝch cùc chñ ®éng s¸ng t¹o cña häc sinh.

4. Cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền

   Tôi xin cam đoan phần báo cáo sáng kiến trên đây, bản thân tôi đã nghiên cứu, tìm tòi và đã đưa vào thực nghiêm trong quá trình giảng dạy, chỉ đạo  tại Trường Tiểu học Tây Giang. Nếu có gì sai sót hoặc không đúng tôi xin chịu trách nhiệm.

                                                            Tây Giang, ngày  20  tháng 5 năm 2017

          CƠ QUAN ĐƠN VỊ                                   TÁC GIẢ SÁNG KIẾN

       ÁP DỤNG SÁNG KIẾN                                  ( Ký và ghi rõ họ tên )

                   ( Xác nhận )                                           

                          

                                                                                          Trần Thị Tố Uyên